Gần đây tôi đã vượt qua mốc 40 năm làm việc với cộng đồng nuôi trồng thủy sản quốc tế. Tôi đã tập trung vào nuôi tôm trong hơn 30 năm qua vì tôi luôn có tình cảm đặc biệt với tôm (ăn tôm). Ngành công nghiệp này đã thay đổi đáng kể kể từ khi tôi bắt đầu tham gia. Trong những ngày đầu, tôi đã học hỏi được từ một số ít cá nhân, nhiều người trong số họ đã thành công. Tôi cũng đã chứng kiến những thất bại quá phổ biến và tôi cũng đã học được từ những thất bại này.
Đôi khi tôi thấy mình khá hoài nghi vì những gì tôi thấy đi thấy lại không hề tích cực. Có nhiều ý tưởng về một số hoạt động thực hành nhất định hoàn toàn không đúng. Một số trong số chúng đã gây ra tác hại không thể đo đếm được và sẽ tiếp tục như vậy.
Trong nuôi tôm, có nhiều con đường dẫn đến thành công, nhưng đáng tiếc là số cách dẫn đến thất bại lại nhiều hơn. Qua thực tiễn, có thể rút ra rằng để duy trì thành công một cách bền vững, cần bảo đảm tốt ít nhất bốn yếu tố then chốt sau đây:
- Duy trì hàm lượng oxy đầy đủ trong toàn bộ quá trình nuôi.
- Quản lý thức ăn hiệu quả, giúp tôm tiêu thụ tối đa lượng thức ăn cần thiết với lượng chất thải thấp nhất, đồng thời hạn chế tối đa các tác nhân gây căng thẳng.
- Giữ môi trường nuôi sạch, không để tích tụ chất hữu cơ – nguyên nhân gây bẩn mang tôm, phát sinh các chất chuyển hóa độc hại của vi khuẩn như hydro sulfide, đồng thời tạo điều kiện cho các mầm bệnh cơ hội và bắt buộc phát triển.
- Đảm bảo đàn giống không mang các mầm bệnh đã biết, đặc biệt là giữ ấu trùng (PL) sạch bệnh ngay từ giai đoạn đầu.
Bài viết này tập trung chủ yếu vào yếu tố cuối cùng. Hiện vẫn tồn tại nhiều quan niệm sai lầm đã vô tình tạo ra các lỗ hổng trong an toàn sinh học, khiến rủi ro dịch bệnh tiếp tục là thách thức lớn đối với người nuôi.
Lầm tưởng # 1
Tỷ lệ sống thấp trong trại giống không hẳn là điều tiêu cực. Trên thực tế, điều này phản ánh việc môi trường nuôi đang tạo ra áp lực chọn lọc tự nhiên, loại bỏ những cá thể yếu và chỉ giữ lại những cá thể khỏe mạnh nhất. Do đó, tỷ lệ sống quan sát được chính là tỷ lệ sống của các cá thể có sức chịu đựng và khả năng thích nghi tốt nhất.
Thực tế
Mặc dù quan điểm này được nhiều người chấp nhận, nhưng trên thực tế không hoàn toàn chính xác. Áp lực chọn lọc tác động đến tỷ lệ sống là một cơ chế cốt lõi của quá trình tiến hóa và diễn ra trong môi trường tự nhiên, chứ không phải trong các hệ thống ương giống quy mô nhỏ.
Điều mà nhà sản xuất thực sự cần là những ấu trùng hậu ấu trùng (PL) khỏe mạnh, không mang mầm bệnh và có khả năng thích nghi tốt với các yếu tố gây căng thẳng trong suốt quá trình sản xuất. Khi được thực hiện đúng quy trình, đàn tôm sẽ có kích thước đồng đều, sinh trưởng ổn định và đạt tỷ lệ sống cao trên toàn quần thể.

Một lầm tưởng là những con tôm có thể sống sót qua các hoạt động ương dưỡng kém vượt trội hơn những con khác. Tỷ lệ sống cao cho chúng ta biết rằng tôm khỏe mạnh. Khi chúng chết trong bể không có nghĩa là những con sống sót vượt trội hơn con khác.
Điều đó có nghĩa là chúng đã tránh được những gì đang giết chết những con khác.
Lầm tưởng # 2
Đàn tôm giống có thể vẫn duy trì trạng thái ổn định khi các tác nhân gây bệnh bắt buộc hiện diện ở mức độ thấp. Các tác nhân này có khả năng gây bệnh ngay cả trên những cá thể khỏe mạnh. Trong khi đó, các tác nhân gây bệnh cơ hội chủ yếu phát bệnh trên những con tôm có sức khỏe suy giảm. Tuy nhiên, một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng sự hiện diện của mầm bệnh ở mức độ thấp sẽ giúp vật nuôi “thích nghi” tốt hơn với các điều kiện thực tế, trong khi thực tế điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro cho đàn giống.
Thực tế
Đàn giống phải sạch và không có bất kỳ tác nhân gây bệnh bắt buộc nào. Thực sự chỉ có một cách để đảm bảo điều này. Việc sàng lọc từng con tôm riêng lẻ với một loạt các tác nhân gây bệnh đã biết bằng RT PCR là bước quan trọng đầu tiên. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải hiểu rằng việc không có bằng chứng chúng xuất hiện không có nghĩa là chúng vắng mặt.

Xét nghiệm PCR âm tính có nghĩa là xét nghiệm âm tính chứ không phải quần thể không có mầm bệnh. Con đường cần đi theo để đảm bảo đàn giống sạch đòi hỏi ít nhất ba điều:
- Sàng lọc PCR chống lại tất cả các mầm bệnh OIE và tất cả các mầm bệnh khác có sẵn mồi. Xem Lầm tưởng # 4 để biết thêm chi tiết.
- Nuôi tôm trong trung tâm nhân giống hạt nhân (NBC). Khi thực hiện đúng cách, đây là môi trường hoàn toàn an toàn sinh học. Khi tôm được nuôi trong cơ sở này, không có động vật nào từ bên ngoài được đưa vào trừ khi chúng đến từ một NBC khác. Các phương pháp thiết lập NBC phải được ghi chép đầy đủ mặc dù không được sử dụng rộng rãi trong nuôi tôm.
Một số công ty tuyên bố có các loại cơ sở này nhưng thường có lỗ hổng trong an toàn sinh học. Dòng tôm từ NBC có thể trở thành con đường lây nhiễm. Ngay khi tôm được đưa vào từ bên ngoài trừ khi chúng đến từ một NBC khác, chúng không còn được coi là sạch bệnh nữa.
- Theo dõi lịch sử và hiệu suất của tất cả các con tôm được bán. Cần phải tạo ra một lịch sử theo dõi chi tiết. Điều này rất cần thiết để đảm bảo rằng nếu có các vấn đề về sức khỏe tôm do mầm bệnh, dù là bắt buộc hay cơ hội, thì chúng không phải là những vấn đề mà có lý do để tin rằng chúng bắt nguồn từ đàn giống.
“Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đơn giản và có thể đòi hỏi một số công việc theo dõi liên tục. Ở một số nơi trên thế giới, điều này gần như không thể thực hiện được”.
Người nông dân không biết họ đã thả tôm có sạch bênh hay không và thời điểm duy nhất họ biết tôm của họ có vấn đề là khi họ thu hoạch và khi đó họ phải có nguồn lực để xem điều gì có thể giết chết tôm của họ.

Nếu tất cả những điều này được tuân thủ thì khả năng cao là không có mầm bệnh nào được đưa vào hệ thống sản xuất do sự chuyển tiếp từ đàn giống. Mà có thể là các hoạt động khác trong trại giống và bất kỳ hệ thống nào khác liên quan đến một nhóm tôm nhất định, chẳng hạn như bể ương giống.
Lầm tưởng # 3
Vì ao có khả năng bị ô nhiễm nặng nên không cần phải lo lắng về chất lượng nước trong trại giống. Điều này gần giống với lầm tưởng # 1.
Thực tế
Chất lượng nước bị suy thoái là nguyên nhân chính gây ra căng thẳng và bệnh tật. Các mầm bệnh không giết chết tôm khỏe mạnh nhưng có thể làm tôm bị suy yếu vì điều này. Nhiều loại sinh vật có thể bị nhiễm nhiều chất hữu cơ lơ lửng, bao gồm một số loại vibrio cơ hội và bắt buộc.
Nước trong trại giống cần phải sạch. Nước không cần phải vô trùng. Nước cần được kiểm soát theo cách đảm bảo không có mầm bệnh hoặc ở mức thấp nhất có thể.
Lầm tưởng # 4
Tôm không có mầm bệnh cụ thể (SPF) có khả năng kháng bệnh và nhìn chung khỏe hơn.
Thực tế
SPF không có nghĩa là không có tất cả mầm bệnh (APF). Trên thực tế, dù có những điều kiện này không có nghĩa là một quần thể thực sự không có một sinh vật nhất định. PCR được sử dụng như là một công cụ thống kê.
“Các mẫu phụ nhỏ được thử nghiệm trên một quần thể và nếu chúng có kết quả âm tính bằng PCR, thì người ta cho rằng tất cả các loài động vật còn lại cũng không có các mầm bệnh này. Điều này không đúng.”
Mức độ đảm bảo tốt nhất mà người ta tạo ra được là 98%. Nhưng khi bạn đang xử lý các mầm bệnh bắt buộc thì ngưỡng này là không đủ. Nếu 2% còn lại mang mầm bệnh thì nó có thể xóa sổ toàn bộ trang trại của bạn, do đó 98% là không đủ. Cách duy nhất để tăng mức độ hiệu quả của xét nghiệm là xét nghiệm mọi loài động vật.

Điều này có thể tốn kém mặc dù những cải tiến gần đây đã cho phép thử nghiệm tôm để tìm ra một loạt các tác nhân gây bệnh tiềm ẩn với chi phí thấp hơn nhiều so với thử nghiệm thông thường (https://www.genics.com.au/).
Mỗi con tôm đều có thể được thử nghiệm. Điều này đề cập đến đàn giống. Khi đàn giống đã sạch nhất có thể, việc kiểm tra theo dõi thường xuyên các giai đoạn sống khác nhau có thể hữu ích trong việc đảm bảo không có lỗ hổng nào trong an toàn sinh học.
Điều này, cùng với việc tuân theo các hướng dẫn được nêu ở trên trong Lầm tưởng # 2, là cách duy nhất để gần như chắc chắn rằng một tác nhân gây bệnh nhất định không hiện diện.
Lầm tưởng # 5
Probiotic là giải pháp cho các vấn đề về vi khuẩn. Chúng sẽ phòng ngăn tôm bị bệnh và chết. Chúng thực hiện điều này bằng cách tác động đến sức khỏe của động vật và thay đổi thành phần vi khuẩn để bảo vệ chúng khỏi cả tác nhân gây bệnh bắt buộc và tác nhân gây bệnh cơ hội.
Thực tế
Probiotic được định nghĩa (bởi FAO-Liên hợp quốc) là các vi sinh vật sống được đưa vào cơ thể qua đường miệng và xâm chiếm đường ruột của tôm, tác động đến hệ vi sinh vật theo cách giúp tôm chống lại bệnh tật và khỏe mạnh hơn.
“Định nghĩa này đang phát triển và ngày nay có vẻ như bất kỳ vi sinh vật nào được sử dụng trên bất kỳ động vật, thực vật, v.v. theo bất kỳ cách nào, dù còn sống hay đã chết đều được gọi là probiotic. Ngay cả khi định nghĩa đúng như mô tả, thì đây cũng chỉ là công cụ.”
Chúng không phải là giải pháp và không thể giải quyết các vấn đề vốn có trong cách thức hoạt động của một mô hình nhất định. Đối với tôm, hầu hết các sản phẩm đều nhằm mục đích cải thiện chất lượng nước. Chúng cũng có khả năng mang lại các lợi ích khác mặc dù điều này không hề đơn giản.
Nhiều nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy có những tác động không xảy ra trong điều kiện thực tế. Sử dụng các loại sản phẩm này không đảm bảo rằng tôm sẽ sạch và không có mầm bệnh tiềm ẩn.
Kết luận
Trong suốt những năm làm việc với những người nuôi tôm ở hàng chục quốc gia, tôi thấy rằng có quá nhiều người tin vào những lời đồn đại này. Nếu không phải là chủ sở hữu, thì có thể là một kỹ thuật viên. Nếu các nhà cung cấp các tôm bố mẹ và trại giống đầu tư vào hệ thống NBC và cam kết sử dụng chúng trong nhiều chu kỳ và tuân thủ các hướng dẫn về xét nghiệm và lịch sử theo dõi, thì tôm sẽ sạch.
“Nếu có vấn đề, ít nhất cũng có thể xác định được nguồn gốc. Theo tôi, nếu toàn bộ ngành không giải quyết được những vấn đề này, chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến một chu kỳ vô tận của các mầm bệnh mới xuất hiện và sự biến động trong sản xuất sẽ tiếp tục.”
Nuôi tôm không thể bền vững nếu không có cách tiếp cận này. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng cơ chế chống vi-rút ở tôm bao gồm những thứ được gọi là EVE (yếu tố vi-rút nội sinh). Các mảnh của vi-rút cuối cùng sẽ được đưa vào DNA của tôm.
Điều này có khả năng làm phức tạp mọi thứ vì một số mồi PCR sẽ phản ứng với những thứ này. Sự hiện diện của chúng không có nghĩa là tôm bị nhiễm bệnh; chỉ là ở đâu đó trên các thế hệ, các thể hệ trước đó của nó đã bị nhiễm bệnh. Việc thử nghiệm của bên thứ ba thiếu trách nhiệm có thể gây ra thiệt hại đáng kể
Theo Stephen G. Newman
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Bình Minh Capital
Xem thêm:
- Các Chiến Lược Kiểm Soát Hội Chứng Hoại Tử Gan Tụy Cấp Tính (AHPNS/EMS) Và Bệnh Vibrio Gây Tử Vong Cao (HLVD/GPD/TPD) (Phần 1)
- Các Nghiên Cứu Mới Xác Nhận Tính Khả Thi Của Các Phương Pháp Cải Tiến Để Xử Lý Nước Thải Nuôi Trồng Thủy Sản
- Đánh Giá Vi Khuẩn Enterococcus faecium Như Một Loại Probiotic Cho Cá Rô Phi
English