3. Kết quả
3.1. Chi tiết thả giống
Việc cải tạo ao được tiến hành cho tất cả các ao trong nghiên cứu này, bắt đầu bằng việc phơi nắng trong khoảng 2 tuần. Sau đó, bón vôi (CaCO3) trên khắp bề mặt đáy ao. Tỷ lệ bón vôi (trung bình 98–174 kg/ha) thay đổi đáng kể giữa các ao trong mỗi nhóm. Sự thay đổi cao hơn được quan sát thấy ở Nhóm B (Bảng 1). Lượng rễ cây thuốc cá Derris eliptica được sử dụng để loại bỏ cá tép tạp cao hơn 1,5 lần ở Nhóm A (189 kg/ha) so với Nhóm B và C (121–130 kg/ha).
Nhóm A thả tôm giống có ngày tuổi lớn hơn so với Nhóm B và Nhóm C (P < 0,05) (Bảng 3), vì 60% nông dân trong nhóm này mua tôm giống ở các trại địa phương ương vèo trong 2–3 tuần. 40% nông dân còn lại của Nhóm A mua giống từ 9–15 ngày tuổi (trung bình 12,7 ± 0,6) và ương vèo trong 18–19 ngày. Mật độ thả giống tương tự nhau giữa các nhóm, trung bình là 2,4–3,9 con/m2. Tỷ lệ sống ước tính trong giai đoạn này là 50,5%–60,6%. Cua thường được nuôi chung với tôm ở Nhóm A (100%) và Nhóm C (90%) nhưng thấp hơn ở Nhóm B (60%). Thời gian thả cua thay đổi đáng kể giữa các ao (Hình 1). Nhiều ao ở Nhóm A được thả cua giống trước. Lượng hạt sinh học Phú Điền được sử dụng ở Nhóm C là 12,0 kg/ha để cải tạo ao và 72,6 kg/ha/vụ hoặc khoảng 17,0–18,0 kg/ha hàng tháng trong suốt vụ nuôi. Chỉ có 16,7%–23,3% ao được nghiên cứu ở cả ba nhóm được báo cáo là cho ăn thêm. Người nông dân cho rằng cần cho ăn thêm để đảm bảo đủ thức ăn cho tôm/cua trong các ao có mật độ thả dày hơn hoặc thức ăn tự nhiên hạn chế. Các mặt hàng địa phương được sử dụng làm thức ăn bổ sung bao gồm ốc sên (43,3%), thức ăn thương mại cho tôm (16,7%), nhau thai trâu (13,3%), lúa nảy mầm (10,0%), nhuyễn thể hai mảnh vỏ nhỏ (10,0%), cá tạp (3,3%) và khẩu phần ăn tự chế biến với cám gạo và ruốc tươi (3,3%). Tỷ lệ thay nước ước tính cho toàn bộ vụ mùa (ngoài nước bổ sung để bù đắp sự bốc hơi và rò rỉ) cao hơn đáng kể ở Nhóm A (89,3%) so với Nhóm C (19,1%) (P < 0,05) (Bảng 1).

Bảng 3. Chi tiết về việc thả giống trên ba nhóm ao sản xuất (Nhóm A: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên, Nhóm B: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và Nhóm C: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và hạt sinh học Phú Điền để tăng cường thức ăn tự nhiên).
| Thông số | Nhóm A | Nhóm B | Nhóm C |
| Thời gian phơi nắng (ngày) | 13.6 ± 0.9 | 12.5 ± 1.4 | 12.0 ± 1.6 |
| Lượng vôi (kg/ha) | 193 ± 28 | 137 ± 43 | 98 ± 25 |
| Rễ cây thuốc cá Derris eliptica sử dụng (kg/ha) | 18.8 ± 2.7 | 12.8 ± 2.3 | 12.1 ± 3.3 |
| Lượng hạt sinh học Phú Điền để cải tạo ao (kg/ha) | Không | Không | 12.0 ± 2.0 |
| Tuổi PL (ngày) | 21.7 ± 1.4a | 12.1 ± 0.2b | 12.2 ± 0.2b |
| Mật độ thả giống (PL/m2) | 3.9 ± 1.0 | 2.4 ± 0.3 | 3.2 ± 0.4 |
| Độ mặn khi thả giống (ppt) | 9.0 ± 1.1 | 8.0 ± 0.9 | 8.0 ± 0.9 |
| Thời gian vèo tôm (ngày) | 17.9 ± 1.4 | 19.0 ± 1.6 | 17.9 ± 1.7 |
| Ước tính tỷ lệ sống trong thời gian ương vèo (%) | 57.0 ± 4.3 | 50.5 ± 3.0 | 60.6 ± 3.4 |
| Cua nuôi chung với tôm (% ao) | 100 | 60 | 90 |
| Hạt sinh học Phú Điền đã sử dụng (kg/ha/vụ) | — | — | 72.6 ± 10.3 |
| Cung cấp thêm thức ăn (% ao) | 23.3 | 20.0 | 16.7 |
- Dữ liệu là giá trị trung bình ± S.E.M. Trong một hàng, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau thì khác nhau về mặt thống kê (α = 0,05).
3.2. Hiệu suất nuôi tôm
Trung bình mất 4,0–4,5 tháng để hoàn thành một vụ tôm. Độ mặn khi thu hoạch cao hơn độ mặn khi thả ở Nhóm B và Nhóm C, cho thấy ít thay nước ở hai nhóm này so với Nhóm A. Thời gian nuôi và thời gian thu hoạch (43–49 ngày) tương tự nhau giữa Nhóm A và Nhóm C, nhưng ngắn hơn đáng kể ở Nhóm B (Bảng 3) (P < 0,05). DOC khi thu tỉa lần đầu bằng lú là 83–88 ngày kể từ khi thả và không khác nhau giữa các nhóm.
Việc sử dụng ấu trùng tôm gia hóa kết hợp với hạt sinh học Phú Điền đã cải thiện đáng kể kích thước tôm khi thu hoạch và tăng năng suất (P < 0,05) (Bảng 4). Trọng lượng tôm ở lần thu tỉa lần đầu ở Nhóm A (34 g) nhỏ hơn 8 g so với Nhóm B (42 g) và nhỏ hơn 12 g so với Nhóm C (46 g) (P < 0,05). Tương tự, trọng lượng tôm ở lần thu hoạch cuối cùng và kích thước tôm lớn nhất được ghi nhận trong thời gian thu hoạch đều cao hơn đáng kể ở Nhóm B và Nhóm C so với Nhóm A (P < 0,05) (Bảng 3). Tăng trọng từ lần thu thu tỉa lần đầu đến lần thu hoạch cuối cùng là 12 g ở Nhóm A nhưng lần lượt là 20 g và 32 g ở Nhóm B và Nhóm C. Ở Nhóm C và Nhóm B, tôm nuôi tăng lần lượt 0,8 g/ngày và 0,6 g/ngày, trong khi ở Nhóm A chỉ tăng 0,3 g/ngày. Kích thước tôm thu hoạch lớn hơn dẫn đến giá tốt hơn cho người nông dân. Giá bán tại ao trung bình cao nhất ở Nhóm C (249.000 đồng/kg), tiếp theo là Nhóm B (223.000 đồng/kg) và thấp nhất ở Nhóm A (162.000 đồng/kg). Nhìn chung, năng suất cao hơn được ghi nhận ở Nhóm C, tức là 227 kg/ha/vụ hoặc 1,8 kg/ha/ngày so với hai nhóm còn lại (P < 0,05).
Bảng 4. Kết quả nuôi tôm (Nhóm A: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên, Nhóm B: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và Nhóm C: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và hạt sinh học Phú Điền để tăng cường thức ăn tự nhiên).
| Thông số | Nhóm A | Nhóm B | Nhóm C |
| Chiều dài vụ nuôi (ngày) | 135 ± 6a | 113 ± 5b | 131 ± 5a |
| Độ mặn khi thu hoạch cuối cùng (ppt) | 9 ± 2 | 14 ± 2 | 14 ± 1 |
| DOC khi thu hoạch lần đầu | 85 ± 2 | 83 ± 3 | 88 ± 4 |
| Kích thước tôm khi thu hoạch lần đầu (g) | 34 ± 1a | 42 ± 2b | 46 ± 2b |
| Kích thước tôm khi thu hoạch cuối cùng (g) | 46 ± 3a | 62 ± 4b | 77 ± 6c |
| Kích thước lớn nhất của tôm thu hoạch (g) | 55 ± 3a | 78 ± 6b | 95 ± 6c |
| Thời gian thu hoạch (ngày) | 49 ± 5a | 30 ± 3b | 43 ± 4a |
| Tăng trọng lượng trong thời gian thu hoạch (g) | 12 ± 2 | 20 ± 4 | 32 ± 5 |
| Tăng trọng lượng hàng ngày trong thời gian thu hoạch (g/ngày) | 0.3 ± 0.1 | 0.6 ± 0.1 | 0.8 ± 0.1 |
| Năng suất (kg/ao) | 389 ± 52 | 365 ± 50 | 501 ± 78 |
| Năng suất (kg/ha/vụ) | 188 ± 27a | 157 ± 20a | 227 ± 31b |
| Năng suất hàng ngày (kg/ha/ngày) | 1.4 ± 0.2a | 1.4 ± 0.2a | 1.8 ± 0.3b |
| Giá trung bình tại ao (1.000 đồng/kg) | 162 ± 6a | 223 ± 9b | 249 ± 15b |
- Dữ liệu là giá trị trung bình ± S.E.M. Trong một hàng, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau thì khác nhau về mặt thống kê (α = 0,05).
Nguồn gốc của tôm giống PL ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả sử dụng tôm giống PL (Hình 2). Đối với 1 kg tôm thương phẩm, cần gấp đôi số lượng tôm giống PL để thả nếu sử dụng tôm giống từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên (trong Nhóm A). Tương tự, số lượng tôm giống PL cần thiết để tạo ra 1 triệu đồng thu nhập cao hơn gấp đôi ở Nhóm A (1.932 con) so với Nhóm B và Nhóm C (649–685 con).

3.3. Hiệu suất nuôi cua
Nuôi cua trung bình khoảng 6 tháng. Mật độ thả trung bình ở Nhóm B (0,7 con/m2) cao hơn đáng kể so với hai nhóm còn lại (0,2–0,3 con/m2), dẫn đến năng suất hàng ngày cao hơn đáng kể (P < 0,05) (Bảng 5). Đợt thu tỉa lần đầu bằng rập cua bắt đầu sau hơn 4 tháng thả. Những con cua cái có gạch lần đầu tiên được phát hiện sau 2–4 tuần kể từ đợt thu tỉa lần đầu. Kích thước thu hoạch trung bình của cua là 310–324 g và không khác nhau giữa các nhóm. Tỷ lệ sống ước tính, được ngoại suy từ năng suất và kích thước thu hoạch trung bình, cao hơn ở Nhóm B và Nhóm C (20,0%–24,5%) so với Nhóm A (14,9%). Hiệu quả sử dụng cua giống tốt hơn đối với Nhóm C. Bất kể nhóm nào, mật độ thả giống (0,04–5,0 con/m2) đều có tương quan với kích thước thu hoạch và năng suất hàng ngày (Hình 3). Mật độ thả giống cao hơn dẫn đến kích thước thu hoạch nhỏ hơn nhưng năng suất hàng ngày cao hơn.
Bảng 5. Kết quả nuôi cua bùn nuôi chung với ao nuôi tôm quảng canh (Nhóm A: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên, Nhóm B: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và Nhóm C: sử dụng PL được sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và hạt sinh học Phú Điền để tăng cường thức ăn tự nhiên).
| Thông số | Nhóm A | Nhóm B | Nhóm C |
| Mật độ thả cua (con/m2) | 0.3 ± 0.05a | 0.7 ± 0.29b | 0.2 ± 0.04a |
| Thời gian nuôi (ngày) | 184 ± 5 | 178 ± 7 | 182 ± 5 |
| DOC khi thu hoạch lần đầu (ngày#) | 130 ± 4 | 126 ± 6 | 129 ± 4 |
| DOC khi cua cái trưởng thành lần đầu (ngày#) | 148 ± 4 | 147 ± 6 | 136 ± 4 |
| Kích thước thu hoạch trung bình (g) | 318 ± 17 | 310 ± 29 | 324 ± 26 |
| Năng suất (kg/ao) | 252 ± 26 | 398 ± 86 | 226 ± 47 |
| Tỷ lệ sống ước tính (%) | 14.9 ± 1.5 | 20.2 ± 4.0 | 25.6 ± 3.4 |
| Năng suất (kg/ha/vụ) | 127 ± 17 | 187 ± 43 | 116 ± 21 |
| Năng suất hằng ngày (kg/ha/ngày) | 0.7 ± 0.1a | 1.1 ± 0.3b | 0.6 ± 0.1a |
| Giá trung bình tại ao (1.000 đồng/kg) | 188 ± 8 | 219 ± 26 | 236 ± 18 |
| Hiệu suất cua giống (con/kg thu hoạch) | 28 ± 3 | 30 ± 6 | 20 ± 4 |
| Hiệu suất cua giống (con/triệu đồng thu nhập) | 156 ± 17 | 140 ± 42 | 78 ± 14 |
- Dữ liệu là giá trị trung bình ± S.E.M. Trong một hàng, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau thì khác biệt về mặt thống kê (α = 0,05).

3.4. Cơ cấu thu nhập, lợi nhuận và chi phí
Trung bình, một ha ao tạo ra doanh thu 109–187 triệu đồng/vụ với xu hướng tăng rõ rệt từ Nhóm A do sử dụng PL gia hóa ở Nhóm B và kết hợp sử dụng PL gia hóa và hạt sinh học Phú Điền ở Nhóm C (Bảng 6). Tổng doanh thu của Nhóm C cao hơn 1,7 lần so với Nhóm A (P < 0,05) nhưng không khác biệt so với Nhóm B (P > 0,05). Phân tích sâu hơn cho thấy tổng doanh thu tôm cao hơn ở Nhóm C dẫn đến tổng lợi nhuận cao hơn (P < 0,05). Không có sự khác biệt giữa các nhóm về tổng lợi nhuận gộp, biên lợi nhuận hoặc lợi tức ròng trên lao động (P > 0,05). Lợi nhuận gộp lần lượt là 46,9, 51,4 và 68,5 triệu đồng/ha/vụ ở Nhóm A, Nhóm B và Nhóm C. Biên lợi nhuận chung cao, trung bình từ 81% đến 86% ở cả ba nhóm. Biên lợi nhuận đối với cua ở Nhóm C thấp hơn do thả cua không thành công cho hai ao.
Bảng 6. Phân tích thu nhập và chi phí sản xuất (Nhóm A: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên, Nhóm B: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và Nhóm C: sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ gia hóa và hạt sinh học Phú Điền để tăng cường thức ăn tự nhiên).
| Thông số | Nhóm A | Nhóm B | Nhóm C |
| Doanh thu gộp (triệu đồng/ha) | 108.9 ± 10.1a | 136.0 ± 19.8ab | 187.3 ± 34.5b |
| Từ tôm | 61.4 ± 7.2a | 83.5 ± 12.9ab | 129.5 ± 23.6b |
| Từ cua | 47.4 ± 4.9 | 81.5 ± 14.8 | 57.8 ± 20.0 |
| Chi phí lao động (người-ngày/vụ/ha) | 62.1 ± 10.6 | 40.7 ± 5.0 | 44.0 ± 5.4 |
| Tổng chi phí (triệu đồng) | 6.9 ± 1.0a | 5.9 ± 0.7a | 12.0 ± 1.0b |
| Lợi nhuận gộp (triệu đồng/ha) | 46.6 ± 5.3 | 51.4 ± 8.2 | 68.5 ± 9.5 |
| Đối với tôm | 25.0 ± 3.3a | 28.6 ± 3.9a | 46.3 ± 6.8b |
| Đối với cua | 21.6 ± 2.9 | 35.4 ± 6.8 | 24.7 ± 7.7 |
| Biên lợi nhuận (%) | 85.9 ± 1.4 | 85.9 ± 2.0 | 81.3 ± 1.6 |
| Đối với tôm | 80.9 ± 2.9 | 83.1 ± 2.0 | 81.7 ± 1.4 |
| Đối với cua | 87.3 ± 1.6a | 92.8 ± 1.6b | 43.3 ± 26.2a |
| Lợi nhuận ròng từ lao động (triệu đồng/người-ngày/ha) | 0.72 ± 0.18 | 0.64 ± 0.12 | 1.14 ± 0.23 |
- Dữ liệu là giá trị trung bình ± S.E.M. Trong một hàng, các giá trị trung bình có chữ cái khác nhau thì khác nhau về mặt thống kê (α = 0,05).
Tổng chi phí sản xuất trên một ha (bao gồm tôm giống, cua giống, vôi, rễ cây thuốc cá Derris eliptica, hạt sinh học Phú Điền và thức ăn bổ sung) cao hơn đáng kể ở Nhóm C (P < 0,05) do chi tiêu nhiều hơn cho hạt sinh học và thức ăn bổ sung (Hình 4). Trong ba nhóm, chi phí cho tôm giống là chi phí nhiều nhất bất kể nguồn gốc tôm giống. Chi phí này chiếm 53,6%–57,6% tổng chi phí ở Nhóm A và Nhóm B, mặc dù đã giảm xuống còn 38,3% ở Nhóm C vì hạt sinh học là khoản chi phí đáng kể (33%). Nhóm B chi ít hơn cho tôm giống nhưng năng suất lại tốt hơn. Chi phí chuẩn bị ao nuôi tương đối giống nhau giữa các nhóm.

4. Thảo luận
Nghiên cứu này lần đầu tiên báo cáo những lợi ích của việc sử dụng tôm sú gia hóa P. monodon cho mô hình quảng canh tôm-lúa. Năng suất tôm ở Nhóm B và Nhóm C cao hơn 2,0–3,0 lần so với các báo cáo trước đây đối với mô hình nuôi tôm quảng canh. Đây là một phát hiện quan trọng có thể giúp cải thiện vụ nuôi hiện tại vì tôm giống được sản xuất từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên đã được sử dụng để thả vào các hệ thống nuôi quảng canh trong một thời gian dài. Giá thấp hơn và sự phong phú của chúng trên thị trường có lẽ là những yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định của người nuôi tôm. Kết quả là, tỷ lệ sống thường thấp trong giai đoạn nuôi thương phẩm, ví dụ, khoảng 6%–7% trong các ao tôm-lúa quảng canh và năng suất chỉ đạt 110 kg/ha/năm. Trong nghiên cứu này, 60% ao trong Nhóm A được thả tôm giống PL (nguồn gốc từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên) đã được các trại địa phương ương vèo trong 2–3 tuần để cải thiện tỷ lệ sống và năng suất. Độ tuổi trung bình của chúng khi thả là 21,7 ngày hoặc 10 ngày tuổi so với tôm giống gia hóa trong Nhóm B và Nhóm C. Tuy nhiên, Nhóm B và Nhóm C có hiệu quả sử dụng tôm giống PL tốt hơn. Chỉ cần thả 1/3 số lượng tôm PL là có thể tạo ra 1 triệu đồng thu nhập từ tôm trong Nhóm C hoặc B so với Nhóm A (Hình 2). Quy mô thu hoạch lớn hơn và năng suất tôm gia hóa cao hơn trong Nhóm C dẫn đến lợi nhuận gộp từ tôm cao hơn đáng kể cho những người nông dân trong nhóm này (P < 0,05) (Bảng 6). Tôm PL từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên ở Nhóm A chỉ đạt 46,0 g khi thu hoạch lần cuối, trong khi tôm giống gia hóa ở Nhóm B và Nhóm C đạt trung bình lần lượt là 62,0 và 77,0 g. Do thị trường ưa chuộng tôm lớn hơn nên giá tại ao của Nhóm B và Nhóm C cao hơn từ 1,4–1,5 lần. Trong một thập kỷ, quan sát thấy tôm P. monodon PL do tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên trên toàn vùng ĐBSCL thường không đạt kích thước lớn, ví dụ: 50–60 g, ngay cả trong các hệ thống nuôi quảng canh. Leigh và cộng sự đã báo cáo rằng tôm P. monodon PL từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên chỉ đạt 31,0–32,0 g khi được nuôi chung với cua bùn S. paramamosain trong ao nuôi tôm-lúa ở tỉnh Cà Mau, Việt Nam trong giai đoạn 2014–2015. Tất cả những điều này cho thấy rằng tôm sú gia hóa P. monodon nên được nông dân cân nhắc thả ở ĐBSCL.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với các báo cáo trước đây của Nguyen và Norman-Lόpez và cộng sự về hiệu suất tốt hơn của tôm sú gia hóa P. monodon ở mật độ thả dày hơn. Nguyen đã thu thập dữ liệu từ 177 ao đất ở 4 tỉnh khác nhau của ĐBSCL để so sánh hiệu suất tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm sú gia hóa P. monodon với tôm giống có nguồn gốc từ tôm bố mẹ đánh bắt ngoài tự nhiên. Kết quả cho thấy tôm sú gia hóa lớn nhanh hơn và đạt kích thước lớn hơn khi thu hoạch. Ở mật độ thả 10–15 PL/m2, kích thước trung bình của tôm sú gia hóa sau 120 ngày nuôi là 34,0 g, lớn hơn 9,0 g so với tôm giống có nguồn gốc từ tôm bố mẹ đánh bắt ngoài tự nhiên. Điều này giúp tăng lợi nhuận lên 30% cho những người nông dân thả tôm sú gia hóa P. monodon. Tương tự như vậy, việc sử dụng tôm sú P. monodon gia hóa ở Úc làm tăng năng suất lên 30% so với việc sử dụng tôm giống từ tôm bố mẹ đánh bắt ngoài tự nhiên. Tỷ lệ sống của tôm sú gia hóa P. monodon, theo báo cáo của Nguyen, và ở Úc là khoảng 75% trở lên.
Trong các hệ thống nuôi quảng canh, tỷ lệ sống của PL tôm sú P. monodon đánh bắt ngoài tự nhiên thấp, ví dụ, 6,2%–7,5% trong ao nuôi tôm-lúa, có thể là do có nhiều động vật ăn thịt trong ao nuôi và tôm giống kém chất lượng. Trong khi tất cả nông dân luôn coi trọng chất lượng tôm, thì những người nông dân nuôi quảng canh thường chọn tôm giống rẻ hơn chủ yếu do khả năng tài chính thấp và một phần là do thói quen (dữ liệu chưa công bố của Hoàng). Do đó, năng suất vẫn ở mức thấp, khoảng 200 kg/ha/năm và thay đổi đáng kể giữa các địa điểm. Đã có những ví dụ về việc lựa chọn tôm giống tốt hơn, cải thiện năng suất và lợi nhuận. Công ty Thiên Phú đã hỗ trợ 400 hộ nông dân nuôi tôm sú quảng canh ở Bạc Liêu với mật độ 2 PL/m2, thả giống 2 tháng một lần (Công ty Thiên Phú, dữ liệu sản xuất chưa công bố). Tôm giống từ tôm bố mẹ đánh bắt tự nhiên được đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm của Công ty Thiên Phú lựa chọn và cung cấp cho những hộ nông dân này dưới dạng vay vốn. Năng suất tăng 50%, đạt năng suất trung bình hàng năm là 500 kg/ha. Kích thước thu hoạch đạt 30–35 g. Tỷ lệ sống ước tính đạt 28%–32%. Việt Nam có hơn 600.000 ha nuôi tôm quảng canh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2023a). Nếu tỷ lệ sống, tăng trưởng, kích thước thu hoạch đều được cải thiện dù chỉ 1% thì tác động chung có thể rất đáng kể. Kết quả của nghiên cứu này và các quan sát khác cho thấy rõ ràng cần chú ý nhiều hơn đến chất lượng tôm giống trong nuôi tôm quảng canh. Thả tôm giống gia hóa là một lựa chọn tốt và nên được khuyến khích vì lợi ích của người nuôi tôm quảng canh.
Kết quả nghiên cứu này cũng chỉ ra tầm quan trọng của nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có trong các ao nuôi tôm-lúa quảng canh, như đã đề cập trong các nghiên cứu trước đây. Chiến lược không cho ăn đã được áp dụng rộng rãi cho nhiều ao trong nghiên cứu này, tức là 83% ở Nhóm C, 80% ở Nhóm B và 77% ở Nhóm A. Điều này có nghĩa là tôm nuôi cần dựa vào nguồn thức ăn có sẵn trong ao để ăn nếu không tiến hành cho ăn bổ sung. Suriyanarayana và Altaff đã báo cáo rằng thức ăn tự nhiên trong các ao nuôi quảng canh chỉ có thể cung cấp thức ăn cho tôm sú P. monodon trong 2 tháng đầu tiên khi tôm phụ thuộc nhiều vào tảo, sinh khối vi khuẩn và các sinh vật nhỏ như luân trùng và giáp xác chân chèo (xem Abualreesh để biết thêm thông tin) và việc cho ăn bằng thức ăn thương mại được khuyến nghị để duy trì sự tăng trưởng của tôm trong vài tháng cuối vụ. Theo nghiên cứu của họ, năng suất tôm cao gấp đôi khi cho ăn bổ sung bằng thức ăn viên thương mại (348,9 kg/ha) so với đối chứng (169,2 kg/ha). Tương tự, một nghiên cứu của Anh và cộng sự về năng suất của tôm sú P. monodon và cua biển S. paramamosain nuôi chung trong các ao nuôi quảng canh đã xác nhận nhu cầu cho ăn bổ sung để tôm sú P. monodon phát triển tốt hơn. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian thu hoạch ngắn nhất được ghi nhận ở Nhóm B có thể cho thấy tôm không đủ thức ăn để tiếp tục phát triển. Cần lưu ý rằng mật độ thả cua bùn ở Nhóm B cao hơn Nhóm A và Nhóm C lần lượt từ 2,3–3,5 lần, điều này có thể dẫn đến cạnh tranh thức ăn với tôm nuôi nhiều hơn. Do đó, năng suất của Nhóm B tương tự như Nhóm A, mặc dù tôm gia hóa ở Nhóm B phát triển nhanh hơn và đạt kích thước lớn hơn. Ở Nhóm C, năng suất cao hơn đáng kể từ 1,2–1,4 lần so với Nhóm A và Nhóm B, cho thấy tác động tích cực của việc sử dụng hạt sinh học Phú Điền để tăng cường thức ăn tự nhiên. Thời gian thu hoạch tương tự nhau giữa Nhóm C và Nhóm A, nhưng Nhóm C có quy mô thu hoạch lớn nhất. Mặc dù nông dân ở Nhóm C tuyên bố rằng việc sử dụng hạt sinh học giúp xuất hiện thức ăn tự nhiên nhiều hơn (ví dụ như chân chèo, giun, chân bụng), nhưng không thể định lượng được sự cải thiện đó trong nghiên cứu này. Cần có các nghiên cứu trong tương lai để làm rõ liệu việc sử dụng hạt sinh học Phú Điền có giúp tăng cường thức ăn tự nhiên trong các ao nuôi tôm quảng canh hay không. Quan trọng hơn, chúng ta cần tìm cách tăng cường thức ăn tự nhiên trong các hệ thống quảng canh để làm cho chúng năng suất hơn.
Lợi ích của việc nuôi cua bùn đã được một số nghiên cứu đề cập. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy cua bùn (S. paramamosain) là loài tuyệt vời để nuôi chung với P. monodon trong ao nuôi tôm-lúa. Mặc dù là vật nuôi thứ cấp nhưng loài này có thể tạo ra thu nhập và lợi nhuận tương đương với P. monodon. Trong nghiên cứu này, thu nhập từ cua bằng 50% thu nhập từ tôm ở Nhóm A và C, với mật độ thả cua thấp hơn (trung bình 0,2–03 con/m2) và bằng thu nhập từ tôm ở Nhóm B, có mật độ thả cua cao hơn (trung bình 0,7 con/m2) (Bảng 5, 6). So với P. monodon, hiệu quả sử dụng cua giống tốt hơn nhiều nhờ kích thước thu hoạch cua lớn hơn (trung bình 300–320 g) và giá thị trường tốt hơn. Mật độ thả cua có ảnh hưởng đến năng suất và biên lợi nhuận. Mật độ thả cua giống cao hơn ở Nhóm B (0,7 con/m2) dẫn đến năng suất hằng ngày cao hơn (1,1 kg/ha) và biên lợi nhuận cao nhất (91,3%). Điều này cho thấy trong phạm vi 0,2–0,7 con/m2, việc tăng mật độ thả cua giống có thể giúp cải thiện thu nhập và lợi nhuận khi nuôi kết hợp trong ao nuôi tôm-lúa. Tuy nhiên, cần cân nhắc tỷ lệ thả thích hợp giữa P. monodon và S. paramamosain để đảm bảo hiệu suất tốt của cả hai loài khi nuôi kết hợp. Mật độ thả cua bùn ở Nhóm B của nghiên cứu này (0,7 con/m2) cao hơn đáng kể so với tiêu chuẩn thả cua bùn trong ao nuôi kết hợp, tức là 0,01–0,2 con/m2 và cao hơn 3,5 lần so với Nhóm C (P < 0,05). Do mật độ thả tôm giữa hai nhóm này tương tự nhau (Bảng 3), nên hiệu suất của tôm gia hóa ở Nhóm B kém hơn có thể do mật độ thả cua bùn cao hơn. Vì chỉ có 20% ao được nghiên cứu trong Nhóm B được cho ăn thêm nên rất có thể là lượng thức ăn tự nhiên có sẵn trong 80% còn lại không đủ cho cả hai loài. Nếu vậy, S. paramamosain dường như là đối thủ cạnh tranh thức ăn với P. monodon, vì Nhóm B có năng suất cua bùn cao nhất (187 kg/ha). Anh và cộng sự đã báo cáo năng suất cua bùn là 88,1–92,4 kg/ha khi chúng được nuôi chung với P. monodon trong các ao nuôi quảng canh ở mật độ 0,15 cua/m2. Trong nghiên cứu của chúng tôi, mật độ thả cua bùn cao hơn ở Nhóm B (0,7 con/m2) dẫn đến năng suất cao hơn, giống với báo cáo của Christensen và cộng sự đối với nuôi đơn loài cua bùn không cho ăn, nhưng đổi lại hiệu suất của tôm sú gia hóa giảm. Điều này thúc đẩy nhu cầu nghiên cứu sâu hơn để tăng cường thức ăn tự nhiên trong ao nuôi rộng lớn hoặc thức ăn bổ sung cho tôm sú gia hóa được nuôi chung với cua bùn trong ao nuôi quảngg canh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy rằng nuôi nước đứng có lợi hơn cho tôm và cua trong ao nuôi tôm-lúa luân canh, mặc dù năng suất nuôi trồng thủy sản quảng canh có mối tương quan tích cực với tỷ lệ thay nước. Nhìn chung, việc tăng cường thay nước trong nuôi trồng thủy sản giúp cải thiện chất lượng nước, dẫn đến tỷ lệ sống và phát triển tốt hơn của sinh vật nuôi. Tuy nhiên, cần phải thích ứng để ứng phó với những thay đổi đáng kể của bối cảnh sản xuất. Trong những năm gần đây, những người nuôi tôm quảng canh ở Việt Nam đã thay đổi các phương pháp canh tác để ứng phó với những rủi ro ngày càng tăng như ô nhiễm cục bộ, dịch bệnh và biến đổi khí hậu. Chỉ thay nước khi thực sự cần thiết. Ngoài ra, việc giảm thay nước đối với các ao có bổ sung hạt sinh học và/hoặc chế phẩm sinh học là hợp lý. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ thay nước ước tính cho toàn bộ vụ nuôi là 83% thể tích ao ở Nhóm A, nhưng là 40% ở Nhóm B và chỉ 19% ở Nhóm C (Bảng 1). Nhóm C sử dụng hạt sinh học để tăng cường thức ăn tự nhiên và có hiệu quả sử dụng nước cao nhất. Hiệu suất của ấu trùng tôm sú gia hóa ở Nhóm C tốt hơn cho thấy có thể tiến hành thay nước ở mức tối thiểu đó. Điều này giúp tiết kiệm chi phí vận hành khi cần bơm nước và giúp ổn định hiện tượng tảo nở hoa, như nhiều nông dân tham gia nghiên cứu này đã chia sẻ với chúng tôi. Ví dụ, nên tiến hành thêm các nghiên cứu sử dụng đồng vị để xác minh tác động của hạt sinh học đến chuỗi thức ăn trong mô hình luân canh lúa-tôm này.
Có sáu nhóm động vật đáy thường thấy trong các ao nuôi tôm rộng lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm nhuyễn thể hai mảnh vỏ, động vật thân bụng, côn trùng, lớp giáp mềm, giun ít tơ và giun nhiều tơ. Trong số này, động vật chân bụng là nhóm chiếm ưu thế, tiếp theo là lớp giáp mềm và giun nhiều tơ. Quần thể của chúng đạt đỉnh vào tháng 3 nhưng giảm đáng kể trong những tháng tiếp theo của vụ nuôi, cho thấy khả năng tôm và/hoặc cua có thể tiêu thụ. Tôm sú có thể săn bắt côn trùng, giun nhiều tơ, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giáp xác, khiến nhóm động vật có nhiều nhất – động vật chân bụng không bị tiêu thụ vì chúng có vỏ cứng. Sự hiện diện của quần thể động vật chân bụng (thường là ốc Cerithidea cingulate và C. quadrata, và ở mức độ thấp hơn là ốc nước lợ Clithon oualaniense) trong ao nuôi tôm được coi là có hại cho sự phát triển của tôm. Những sinh vật này cạnh tranh oxy và thức ăn với tôm nuôi. Hơn nữa, chúng làm giảm đáng kể độ kiềm khi sử dụng canxi để phát triển vỏ, điều này gây bất lợi cho tôm. Tuy nhiên, chúng lại là thức ăn tự nhiên ưa thích của cua bùn. Do đó, khi được nuôi chung trong ao nuôi tôm-lúa, cua bùn có thể sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên bất lợi này. Trên thực tế, động vật chân bụng là mặt hàng phổ biến nhất mà những người nông dân nuôi quảng canh mua để làm thức ăn bổ sung cho cua bùn ở ĐBSCL.
Hơn nữa, cuộc thảo luận của chúng tôi với người nông dân cho thấy, không giống như tôm giống PL, chất lượng cua giống chưa được xác định và cần được cải thiện. Người nông dân đã quan sát thấy cua giống không đạt đầu con và tốc độ tăng trưởng kém. Hiện tại, giá cua giống rẻ hơn, do đó, nông dân ưa chuộng cua giống nhỏ hơn để thả nuôi. Điều này có thể liên quan đến cua không đạt đầu con, ước tính khoảng 14,9%–25,6% trong nghiên cứu này. Tỷ lệ sống của cua bùn thấp và bệnh dịch xuất hiện đã được báo cáo ở các quốc gia nuôi cua bùn như Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam (xem Coates và Rowley để biết thêm thông tin). Cùng với thức ăn và bệnh tật, việc thiếu cua giống chất lượng được xác định là yếu tố hạn chế đầu tiên đối với sự phát triển của nghề nuôi cua bùn. Như đã chỉ ra trong nghiên cứu này, hiệu quả thả cua bùn cao hơn nhiều so với P. monodon đối với 1 kg cua thương phẩm cuối cùng hoặc 1 triệu đồng thu nhập (Bảng 5, Hình 2). Nếu chất lượng cua giống có thể được cải thiện, tốt nhất là nên sử dụng phương pháp để tăng cường thức ăn tự nhiên hoặc thêm thức ăn bổ sung, thì năng suất và lợi nhuận cho cua bùn dự kiến sẽ tăng lên.
Mô hình nuôi tôm – lúa luân canh được xem là một giải pháp thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Việt Nam hiện được xếp vào nhóm năm quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó tình trạng xâm nhập mặn gia tăng và thiếu hụt nguồn nước ngọt đang đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với sản xuất lúa. Ước tính, cứ mỗi khi độ mặn tăng thêm 1 g/L, năng suất lúa có thể giảm từ 180 đến 1.270 kg/ha/vụ. Đến năm 2018, hơn 1,2 triệu ha đất tại ĐBSCL đã bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn. Trong bối cảnh đó, nuôi tôm nổi lên như một lựa chọn sinh kế phù hợp và hiệu quả cho người dân tại các khu vực chịu ảnh hưởng. Hoạt động nuôi tôm thường được triển khai trong mùa khô – thời điểm không thuận lợi cho canh tác lúa – và mang lại thu nhập, lợi nhuận cao hơn đáng kể so với trồng lúa đơn thuần. Bên cạnh lợi ích kinh tế, nghiên cứu của Yang và cộng sự cho thấy mô hình tôm – lúa tại Trung Quốc có khả năng giảm phát thải khí nhà kính và cải thiện hiệu quả sử dụng ruộng lúa so với hệ thống canh tác lúa đơn canh. Theo các tác giả, dấu chân carbon của mô hình này chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi mức tiêu thụ năng lượng và đầu vào thức ăn. Do đó, việc đánh giá dấu chân carbon của mô hình tôm – lúa trong nghiên cứu hiện tại theo hai kịch bản có sử dụng thức ăn và không sử dụng thức ăn sẽ mang lại giá trị khoa học đáng kể. Trong đó, kịch bản không sử dụng thức ăn được kỳ vọng có dấu chân carbon thấp hơn, do không phát sinh tiêu thụ năng lượng và thức ăn thương mại.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy hiệu quả kinh tế có thể được nâng cao thông qua việc thả ấu trùng tôm sú gia hóa, tăng cường nguồn thức ăn tự nhiên và áp dụng mô hình nuôi ghép với cua bùn. Mô hình nuôi tôm – cua ở mật độ thấp này không yêu cầu sục khí và có tần suất thay nước thấp hơn đáng kể so với các hệ thống nuôi thâm canh và siêu thâm canh. Dữ liệu thu thập được cho thấy chi phí đầu tư chỉ ở mức 6,0 triệu đồng/ha/vụ đối với Nhóm B và 12,1 triệu đồng/ha/vụ đối với Nhóm C (tương đương 240 và 480 USD), phù hợp với khả năng tài chính của phần lớn các hộ nuôi quy mô nhỏ. Kết quả tổng thể rất khả quan, với biên lợi nhuận gộp đạt 81–86%. Về chất lượng sản phẩm, mô hình này có tiềm năng đáp ứng phần lớn các yêu cầu của canh tác hữu cơ khi sử dụng ấu trùng tôm và cua gia hóa, đồng thời không sử dụng thức ăn thương mại. Theo Jonell và Henriksson, các tiêu chuẩn hữu cơ hạn chế việc sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu tổng hợp, kháng sinh và phân bón vô cơ, đồng thời phản đối các hoạt động gây tác động tiêu cực đến môi trường. Tính bền vững của mô hình luân canh lúa – tôm được trình bày trong nghiên cứu này cần tiếp tục được đánh giá thông qua các nghiên cứu trong tương lai. Tuy nhiên, mô hình này có tiềm năng trở thành cơ sở để xây dựng thương hiệu sản phẩm với giá trị gia tăng cao, qua đó mang lại lợi ích kinh tế xứng đáng cho người nông dân nhờ áp dụng các phương thức canh tác bền vững.
Theo Hoàng Tùng, Nguyễn Thái Bình, Huỳnh Việt Quang
Nguồn: https://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1155/2024/5773446
Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Bình Minh Capital
Xem thêm:
- Các Nhà Nghiên Cứu Khám Phá Protein Đơn Bào Từ Nước Thải Chế Biến Đậu Nành Làm Nguyên Liệu Thức Ăn Thủy Sản
- Phân Tích Bệnh Phân Trắng (WFD) do Vibrio sp. Và Dinoflagellata Ở Tôm Thẻ Chân Trắng (Litopenaeus vannamei) Ở Ao Nuôi Nước Lợ
- Ảnh Hưởng Của Việc Cho Ăn Trong Quá Trình Loại Bỏ Mùi Vị Khó Chịu Đến Sự Bài Tiết Geosmin Ở Cá Rô Phi
English