Phần 2: Đánh Giá Vai Trò Của Việc Bổ Sung Tryptophan Trong Việc Tăng Trưởng, Giảm Hành Vi Hung Hăng Và Tăng Cường Khả Năng Miễn Dịch Ở Cua Con Scylla paramamosain

3. Kết quả

3.1. Tỷ lệ sống và hiệu suất tăng trưởng

Trong nghiên cứu này, các nghiệm thức khác nhau của khẩu phần ăn thử nghiệm đã tác động đáng kể đến hiệu suất tăng trưởng của S. paramamosain non, như được trình bày chi tiết trong Bảng 5. Đáng chú ý, tỷ lệ sống ở những con non trong nhóm 3,38 g/kg cao hơn so với các nhóm khác, mặc dù không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05). Sự gia tăng Trp trong khẩu phần ăn có liên quan đến sự gia tăng đáng kể trong FBW, WGR và SGR của cua con (P < 0,05), với nhóm 3,68 g/kg đạt được các giá trị cao nhất (P < 0,05). Có FCR thấp nhất và MF cao nhất ở mức 3,68 g/kg (P < 0,05). Phân tích hồi quy đa thức bậc hai dựa trên WGR và SGR chỉ ra rằng mức bổ sung Trp tối ưu trong khẩu phần ăn của cua là 3,94–3,98 g/kg (8,87–9,96 g/kg protein trong khẩu phần ăn), như thể hiện trong Hình 1.

Bảng 5 Hiệu suất tăng trưởng của cua Scylla paramamosain được cho ăn chế độ ăn có chứa hàm lượng tryptophan khác nhau.
Bảng 5 Hiệu suất tăng trưởng của cua Scylla paramamosain được cho ăn chế độ ăn có chứa hàm lượng tryptophan khác nhau.

Lưu ý: Giá trị trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 3. Dữ liệu có các chữ cái khác nhau có sự khác biệt đáng kể giữa các phương pháp xử lý (P < 0,05). IBW: Khối lượng cơ thể ban đầu; FBW: Khối lượng cơ thể cuối; WGR: Tỷ lệ tăng trọng; SGR: Tỷ lệ tăng trưởng cụ thể; FCR: Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn; MF: Tần suất lột xác.

Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng cân (WGR, %) (A) và tỷ lệ tăng trưởng cụ thể (SGR, % / ngày) (B) với mức Trp trong chế độ ăn. Thuật ngữ 'Xopt' biểu thị mức tryptophan trong chế độ ăn tối ưu giúp tối đa hóa cả WGR và SGR.
Hình 1. Mối quan hệ giữa tỷ lệ tăng cân (WGR, %) (A) và tỷ lệ tăng trưởng cụ thể (SGR, % / ngày) (B) với mức Trp trong chế độ ăn. Thuật ngữ ‘Xopt’ biểu thị mức tryptophan trong chế độ ăn tối ưu giúp tối đa hóa cả WGR và SGR.

3.2. Thành phần toàn thân và axit amin

Thành phần toàn thân và axit amin của S. paramamosain được thể hiện trong Bảng 6Bảng 7. Trp ảnh hưởng đáng kể đến độ ẩm và hàm lượng protein thô trong S. paramamosain non (P < 0,05), với nhóm nhận được 4,05 g/kg Trp thể hiện hàm lượng protein thô của cua nguyên con cao hơn đáng kể so với các nghiệm thức khác (P < 0,05). Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể nào được quan sát thấy về hàm lượng chất béo thô giữa các nhóm (P > 0,05) (Bảng 6). Ngoài ra, việc bổ sung Trp có tác động đáng kể đến mức độ của nhiều loại axit amin khác nhau trong cua con (P < 0,05). Hàm lượng isoleucine (Ile), leucine (Leu), tyrosine (Tyr) và phenylalanine (Phe) tăng đáng kể khi mức Trp tăng (P < 0,05) (Bảng 7).

Bảng 6 Ảnh hưởng của mức độ tryptophan trong chế độ ăn đến thành phần toàn thân của Scylla paramamosain.
Bảng 6 Ảnh hưởng của mức độ tryptophan trong chế độ ăn đến thành phần toàn thân của Scylla paramamosain.

Lưu ý: Trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 3. Dữ liệu có chữ cái khác nhau có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05).

Bảng 7 Ảnh hưởng của mức tryptophan trong chế độ ăn đến thành phần axit amin (g/100 g cua khô) của cua Scylla paramamosain.
Bảng 7 Ảnh hưởng của mức tryptophan trong chế độ ăn đến thành phần axit amin (g/100 g cua khô) của cua Scylla paramamosain.

Lưu ý: Trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 3; Lưu ý: Trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 3; Trp: Tryptophan; Thr: Threonine; Val: Valine; Ile: Isoleucine; Leu: Leucine; Phe: Phenylalanine; Lys: Lysine; His: Histidine; Arg: Arginine; Met: Methionine; Asp: Axit aspartic; Ser: Serine; Glu: Axit glutamic; Pro: Proline; Gly: Glycine; Ala: Alanine; Cys: Cysteine; Tyr: Tyrosine. Dữ liệu có các chữ cái khác nhau có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05).

3.3. Hoạt động của enzyme tiêu hóa

Mức Trp biểu hiện khác nhau trong thức ăn ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của enzyme tiêu hóa ở toàn bộ cua (P < 0,05) (Bảng 8). Hoạt động của trypsin được phát hiện ở mức tương đối cao trong nhóm 2,94–4,05 g/kg, với nhóm 4,39 g/kg thể hiện hoạt động thấp nhất. Cả hoạt động của amylase và lipase đều đạt đỉnh ở nhóm 3,38 g/kg và nhóm 3,68 g/kg (P < 0,05).

Bảng 8 Ảnh hưởng của hàm lượng tryptophan trong chế độ ăn đến hoạt động của enzyme tiêu hóa trong toàn bộ cua Scylla paramamosain.
Bảng 8 Ảnh hưởng của hàm lượng tryptophan trong chế độ ăn đến hoạt động của enzyme tiêu hóa trong toàn bộ cua Scylla paramamosain.

Lưu ý: Trung bình ± SD, n=3. Dữ liệu có chữ cái khác nhau có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05).

3.4. Khả năng miễn dịch và chống oxy hóa

Các thông số về khả năng miễn dịch và chống oxy hóa của S. paramamosain được thể hiện trong Bảng 9. Mức serotonin (5-HT) tăng cùng với Trp trong khẩu phần ăn tăng, cho thấy nhóm 4,05 g/kg tăng cao nhất (P < 0,05). Hoạt động cao đáng chú ý của acetyltransferase (HAT) và tryptophan hydroxylase (TPH) lần lượt được tìm thấy ở nhóm 3,68 g/kg và 4,39 g/kg (P < 0,05). Ngoài ra, mức melatonin tăng đáng kể ở nhóm 3,68 g/kg (P < 0,05). Nhóm 4,05–4,39 g/kg cũng nổi bật với hoạt động Superoxide Dismutase (SOD) cao hơn đáng kể, vượt trội hơn so với các nhóm khác (P < 0,05). Tuy nhiên, không thấy sự khác biệt đáng kể ở mức độ malondialdehyde (MDA) và catalase (CAT) giữa các nhóm (P > 0,05). Phosphatase axit và phosphatase kiềm của nhóm 3,38–3,68 g/kg biểu hiện hoạt động tương đối cao hơn so với các nhóm khác (P < 0,05).

Bảng 9 Ảnh hưởng của hàm lượng tryptophan trong chế độ ăn đến khả năng miễn dịch và chống oxy hóa của cua Scylla paramamosain.
Bảng 9 Ảnh hưởng của hàm lượng tryptophan trong chế độ ăn đến khả năng miễn dịch và chống oxy hóa của cua Scylla paramamosain.

Lưu ý: Trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 3. Dữ liệu có các chữ cái khác nhau có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05). 5-HT: Serotoni; MLT: Melatonin; TPH: Tryptophan hydroxylase; HAT: Histone acetyltransferase; MDA: Malondialdehyde; SOD: Superoxide dismutase; CAT: Catalase; ACP: Acid phosphatase; AKP: Alkaline phosphatase.

3.5. Biểu hiện gen

Trp trong khẩu phần ăn ảnh hưởng đáng kể đến mức độ biểu hiện của gen liên quan đến tổng hợp protein Tor, với nhóm 4,05 g/kg biểu hiện mức biểu hiện cao hơn đáng kể so với nhóm 2,94 g/kg (P < 0,05) (Hình 2). Tuy nhiên, gen S6k1 không khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P > 0,05). Ngoài ra, mức độ biểu hiện của 5- HTR1 tăng đáng kể ở nhóm 3,68 g/kg và 4,05 g/kg so với các nhóm khác (P < 0,05) (Hình 2). Đồng thời, Trp cũng ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện của các gen liên quan đến miễn dịch ở cua con, với mức biểu hiện cao nhất được quan sát thấy đối với Lysozyme và Relish ở nhóm 4,05 g/kg (P < 0,05) (Hình 2).

Hình 2. Tác dụng của tryptophan lên biểu hiện gen ở toàn bộ cua Scylla paramamosain.
Hình 2. Tác dụng của tryptophan lên biểu hiện gen ở toàn bộ cua Scylla paramamosain.

Lưu ý: Tor: Target of rapamycin; S6k1: Ribosomal protein S6 kinase beta-1; 5-HTR1: 5-hydroxytryptamine receptor 1; Relish: NF-kappa-B-like factor Relish.

3.6. Đánh giá hành vi hung hăng

Các mức độ khác nhau của hành vi hung hăng do S. paramamosain non thể hiện đã được phân loại và mô tả trong Hình bổ sung 1, và phân tích thống kê về các tần suất hành vi khác nhau ở cả giai đoạn trung hạn và giai đoạn cuối kỳ dưới các mức Trp khác nhau đã được trình bày trong Hình 3. Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian tiếp cận, tiếp xúc và chiến đấu của cua con giữa các nghiệm thức trong giai đoạn trung hạn (P > 0,05) (Hình 3A). Tuy nhiên, về sau, cua con trong nhóm 2,94 g/kg Trp biểu hiện thời gian tiếp cận, tiếp xúc và chiến đấu cao hơn đáng kể so với các nhóm khác (P < 0,05) (Hình 3B). Ngoài ra, nhóm 2,94 g/kg Trp biểu hiện điểm hành vi cao hơn đáng kể và tỷ lệ hành vi hung hăng lớn hơn so với các nhóm khác (P < 0,05) (Hình 3C).

Hình 3. Tác động của tryptophan lên các mức độ hành vi và điểm số khác nhau của Scylla paramamosain non.
Hình 3. Tác động của tryptophan lên các mức độ hành vi và điểm số khác nhau của Scylla paramamosain non.

Lưu ý: Giá trị trung bình ± Độ lệch chuẩn, n = 10. Trong mỗi nhóm, giá trị trung bình (hình tròn mở) của dữ liệu quan sát được (điểm đóng) được hiển thị. A: Thời gian của các mức độ hành vi khác nhau ở giai đoạn giữa của thí nghiệm; B: Thời gian của các mức độ hành vi khác nhau ở giai đoạn cuối của thí nghiệm; C: Tỷ lệ phần trăm tương đối của các mức độ hành vi và điểm số ở giai đoạn giữa và cuối của các giai đoạn thí nghiệm. Dữ liệu có các chữ cái khác nhau khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức (P < 0,05)

3.7. Phân tích thành phần chính (PCA)

Để kiểm tra mối liên hệ giữa mức Trp trong khẩu phần ăn và các thông số tăng trưởng, hành vi, sinh lý và sinh hóa của S. paramamosain, một PCA đã được tiến hành (Hình 4). Hai thành phần đầu tiên tích lũy giải thích được 77,48% sự thay đổi trong các thông số đã xác định (Bảng bổ sung 1). Các vectơ riêng của các thông số cho mỗi PCA cho thấy 5-HTR1, Tor, Serotonin, Protein, WGR, SGR, S6k1 và MF đóng góp tích cực vào PC1, trong khi amylase, FCR và điểm số hành vi liên quan tiêu cực đến PC1 (Hình 4A, Bảng bổ sung 1). Lysozyme, ACP và AKP đóng góp tích cực vào PC2 (Hình 5A, Bảng bổ sung 1). Các thông số còn lại của lipase và trypsin đóng góp tích cực vào PC3 và PC4 (Hình 4B, Bảng bổ sung 1). Điểm của các PC này phần lớn khác nhau giữa các nhóm Trp khác nhau.

Hình 4. Kết quả PCA cho thấy biểu đồ kép về điểm PC của năm mức Trp trong chế độ ăn (2,94, 3,38, 3,68, 4,05 và 4,39 g/ kg) và tải trọng của các thông số tăng trưởng, hành vi, sinh lý và sinh hóa của Scylla paramamosain.
Hình 4. Kết quả PCA cho thấy biểu đồ kép về điểm PC của năm mức Trp trong chế độ ăn (2,94, 3,38, 3,68, 4,05 và 4,39 g/ kg) và tải trọng của các thông số tăng trưởng, hành vi, sinh lý và sinh hóa của Scylla paramamosain.

4. Thảo luận

Tỷ lệ sống cao là chỉ số chính đánh giá sự thành công của nuôi giáp xác. Nhìn chung, tỷ lệ sống trên 80% chấp nhận được trong các thử nghiệm nuôi giáp xác (Apine và cộng sự, 2023). Trong nghiên cứu này, tỷ lệ sống của cua bùn con được bổ sung 3,38–3,68 g/kg Trp là 75,76–87,88%, phần lớn phù hợp với tỷ lệ sống của S. paramamosain trong các thí nghiệm nghiên cứu dinh dưỡng trước đây (76,19%-92,86%, Zheng và cộng sự, 2020; 69,41%-76,47%, Zhou và cộng sự, 2020; 86,11%-98,61%, Xu và cộng sự, 2023). Các phát hiện cho thấy thiết lập thử nghiệm phù hợp với việc nuôi cấy S. paramamosain. Lượng Trp nạp vào thích hợp là rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển tối ưu ở động vật thủy sinh. Sự tăng trưởng của giáp xác đạt được thông qua quá trình lột xác thường xuyên và liên tục (Nguyen và cộng sự, 2014). Trong nghiên cứu này, khi mức Trp trong thức ăn tăng lên 3,68 g/kg (8,16 g/kg protein thô), các giá trị MF, WGR và SGR của cua con tăng đáng kể. Tuy nhiên, khi mức Trp trong thức ăn tăng thêm, MF giảm đáng kể. Những kết quả này chỉ ra rằng việc bổ sung Trp thích hợp có thể thúc đẩy sự phát triển của S. paramamosain. Dựa trên phân tích hồi quy đa thức bậc hai của các giá trị SGR và WGR, mức Trp trong khẩu phần ăn tối ưu cho cua giống là 3,94–3,98 g/kg (8,87–9,96 g/kg protein trong khẩu phần ăn). Nhu cầu Trp tối ưu tương đương cũng đã được ghi nhận đối với các loài giáp xác khác, chẳng hạn như ở tôm thẻ chân trắng L. vannamei (3,7–4,0 g/kg trong thức ăn khô, Sun và cộng sự, 2015; Jin và cộng sự, 2017) và tôm kuruma Marsupenaeus japonicus (4,0 g/kg trong thức ăn khô, Teshima và cộng sự, 2002).

Sự cải thiện trong quá trình tăng trưởng của cua con có thể một phần là do sự tăng cường hoạt động của enzyme tiêu hóa và hiệu quả chuyển đổi thức ăn được thúc đẩy bởi Trp (Esmaeili và cộng sự, 2024). Serotonin (5-HT), một chất chuyển hóa của Trp, đã được chứng minh là kích thích giải phóng các peptide giống cholecystokinin/cholecystokinin, do đó tạo điều kiện cho quá trình tiết enzyme tuyến tụy (Katz và Harris-Warrick, 1990; Li và cộng sự, 2001). Tuy nhiên, lượng Trp quá mức có thể dẫn đến tình trạng tăng cao liên tục nồng độ 5-HT, có thể làm giảm nhu động ruột, làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn qua hệ tiêu hóa, kéo dài thời gian tác dụng của enzyme lên chất nền và do đó làm giảm nhu cầu của cơ thể đối với enzyme tiêu hóa (Keating và Spencer, 2019). Trong nghiên cứu này, một số hoạt động chính của enzyme tiêu hóa, bao gồm protease, lipase và amylase, trong nhóm có 4,39 g/kg Trp thấp hơn đáng kể so với các giá trị tương ứng trong nhóm 3,66 g/kg. Do đó, nồng độ Trp cao có thể dẫn đến giảm hoạt động của enzyme tiêu hóa, tăng FCR và do đó ức chế sự phát triển.

Nguồn cung cấp axit amin cân bằng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trạng thái cân bằng axit amin, hạn chế quá trình dị hóa axit amin và do đó tăng cường tổng hợp protein ròng và lắng đọng nitơ trong cơ thể (Schuhmacher và cộng sự, 1997). Trong nghiên cứu này, hàm lượng protein thô toàn thân tăng đáng kể khi mức Trp trong khẩu phần ăn tăng lên, đạt đỉnh ở mức Trp 3,68 g/kg. Trong khi đó, mức biểu hiện gen của TOR và S6k1 trong S. paramamosain tăng lên khi hàm lượng Trp trong khẩu phần ăn nằm trong khoảng 3,38–3,68 g/kg, cho thấy Trp có thể tăng cường tổng hợp protein bằng cách tăng biểu hiện của các gen chính trong con đường truyền tín hiệu TOR. Tuy nhiên, mức protein thô toàn thân giảm khi bổ sung Trp trong khẩu phần ăn vượt quá 3,68 g/kg. Tiêu thụ quá nhiều tryptophan có thể phá vỡ sự cân bằng axit amin, tăng cường quá trình khử amin và tăng bài tiết chất thải nitơ, chẳng hạn như amoniac và trimethylamine. Điều này có thể làm giảm hiệu quả giữ nitơ và tổng hợp protein, như đã quan sát thấy ở một số loài cá (Ahmed và Khan, 2004; Peres và Oliva-Teles, 2007). Ngoài ra, nồng độ axit amin trung tính lớn (tức là Phe, Tyr, Trp, Leu và Ile) trong cua con tăng lên cùng với việc bổ sung Trp trong khẩu phần ăn. Nhìn chung, nồng độ Trp cao hơn có thể ảnh hưởng đến sự hấp thụ cạnh tranh của các axit amin trung tính lớn vì chúng chia sẻ cùng các kênh vận chuyển, chẳng hạn như chất vận chuyển LAT1 (Diksic và Young, 2001). Nồng độ axit amin trung tính lớn cao được quan sát thấy trong nghiên cứu này có thể là do hai lý do tiềm ẩn: Thứ nhất, Phe, Tyr và Trp là các axit amin thơm. Trp ngoại sinh được chuyển thành axit indole-3-acetic thông qua hoạt động xúc tác của transaminase axit amin thơm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit amin thơm (Paeslack và cộng sự, 2018). Thứ hai, mức Trp tăng có thể kích hoạt các cơ chế điều hòa trong cơ thể, chẳng hạn như tăng cường biểu hiện chất vận chuyển LAT1 hoặc kích hoạt các phản ứng thích nghi khác (Diksic và Young, 2001), có thể gián tiếp làm tăng mức axit amin khác. Cần có thêm các nghiên cứu để xác minh những lời giải thích tiềm năng này.

Giáp xác không có phản ứng miễn dịch thích ứng và chủ yếu dựa vào cơ chế miễn dịch bẩm sinh của chúng để nhận biết và ngăn chặn mầm bệnh (Iwanaga và Lee, 2005; Tran và cộng sự, 2020). Nghiên cứu này phát hiện ra rằng lượng Trp hấp thụ vào cơ thể phù hợp (3,68–4,05 g/kg ) có thể nâng cao biểu hiện gen của Relish và Lysozyme, cho thấy khả năng tăng cường miễn dịch Trp tối ưu của S. paramamosain non. Hơn nữa, chất chuyển hóa Trp là melatonin được ban tặng các đặc tính giúp tăng cường khả năng miễn dịch (Liu và cộng sự, 2019) và khả năng chống oxy hóa của sinh vật (Yang và cộng sự, 2020). Quá trình chuyển đổi Trp thành melatonin bên trong sinh vật được điều chỉnh bởi một loạt các cơ chế điều hòa nghiêm ngặt, liên quan đến một loạt các enzyme (như N-acetyltransferase) và các hợp chất trung gian (như 5-hydroxytryptophan, 5-HTP) (Roberts và Fitzpatrick, 2013). Nghiên cứu này cho thấy nhóm được bổ sung mức Trp tối ưu (3,68 g/ kg) biểu hiện mức melatonin cao hơn đáng kể, kết hợp với sự gia tăng hoạt động của N-acetyltransferase. Những phát hiện tương tự đã được ghi nhận ở cá ngựa vằn (Da Mota Teixeira, 2019) và cá O. mykiss non (Lepage, 2004).

Phosphatase và các enzyme chống oxy hóa là những thành phần thiết yếu của hệ miễn dịch bẩm sinh ở giáp xác, đồng thời thường được sử dụng làm chỉ tiêu đánh giá tình trạng sinh lý và sức khỏe tổng thể của chúng (Fang et al., 2002; Baganz & Blakely, 2013). Trong đó, ACP và AKP là các enzyme giữ vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa phốt pho nội bào, có mối liên hệ mật thiết với sự chuyển hóa DNA, protein, lipid và nhiều quá trình sinh học khác (Whyte, 1994; Goff, 2018; Zhu et al., 2024). Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt tính của ACP và AKP ban đầu tăng lên, sau đó giảm dần khi nồng độ tryptophan (Trp) tiếp tục tăng. Xu hướng này phù hợp với các nghiên cứu trên Litopenaeus vannamei (Sun et al., 2016) cũng như trên một số loài cá khác như Channa argus (Han, 2022) và Cyprinus carpio var. (Tang et al., 2013). Sự gia tăng hoạt tính của các enzyme này khi bổ sung Trp phản ánh trạng thái trao đổi chất tích cực, góp phần hỗ trợ quá trình sinh trưởng và tăng cường đáp ứng miễn dịch. Bên cạnh đó, các enzyme chống oxy hóa, đặc biệt là SOD, đóng vai trò chủ đạo trong việc trung hòa các gốc oxy phản ứng (ROS) dư thừa và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương oxy hóa (Qiu et al., 2015). Hoạt tính SOD cao nhất được ghi nhận ở nhóm cua con được bổ sung 4,05 g/kg Trp trong khẩu phần ăn. Tổng hợp các kết quả cho thấy việc bổ sung tryptophan ở mức hợp lý có thể nâng cao năng lực miễn dịch và khả năng chống oxy hóa ở cua S. paramamosain giai đoạn con, từ đó góp phần cải thiện sức khỏe và hiệu suất sinh trưởng tổng thể.

Cua bùn S. paramamosain có bản năng lãnh thổ mạnh mẽ và hung hăng. Điều quan trọng là phải khám phá các phương pháp quản lý hiệu quả để giảm thiểu tác động của hành vi hung hăng đối với ngành nuôi cua. Nghiên cứu chứng minh rằng hành vi hung hăng giảm đáng kể khi nồng độ tryptophan là 3,68 g/kg , trùng với mức 5-HT tăng lên ở cua con. Phát hiện này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về nhiều loài thủy sinh khác nhau, bao gồm cua xanh Carcinus maenas (Sneddon và cộng sự, 2000), cá tuyết Đại Tây Dương non Gadus morhua (Hoglund và cộng sự, 2005), cá hồi cầu vồng O. mykiss (Winberg và cộng sự, 2001) và tôm càng xanh nước ngọt Astacus leptodactylus Eschscholtz (Harlıoglu và cộng sự, 2014). Tác động của Trp đối với hành vi hung hăng có liên quan đến chất chuyển hóa 5-HT của nó. 5-HT là một chất điều biến thần kinh quan trọng ảnh hưởng đến hành vi thông qua các cơ chế phân tử phức tạp trong hệ thần kinh trung ương (Shpakov và cộng sự, 2010). Nền tảng phân tử của các tác động hành vi của 5-HT bao gồm hoạt hóa thụ thể liên kết với một loạt các thụ thể liên kết với protein G (tức là 5-HTR1), khởi tạo các chuỗi truyền tín hiệu nội bào điều chỉnh hoạt động của tế bào thần kinh (Siegel và cộng sự, 2007). Nó tác động đến tính dẻo của khớp thần kinh và các con đường truyền tín hiệu tế bào như các con đường MAPK/ERK và PI3K/Akt, là một phần không thể thiếu của các quá trình như sự sống còn, tăng trưởng và biệt hóa của tế bào, do đó gián tiếp định hình hành vi (Chilmonczyk và cộng sự, 2017). Ngoài ra, 5-HT được biết là có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương để tăng cường cảm giác no, có khả năng làm giảm độ nhạy cảm với các kích thích bên ngoài và động lực gây hấn (Kravitz, 2000). Nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào cách tryptophan ảnh hưởng đến hành vi của S. paramamosain non thông qua con đường chuyển hóa 5-HT.

5. Kết luận

Dựa trên phân tích hồi quy đa thức của các chỉ số WGR và SGR, nhu cầu tryptophan (Trp) tối ưu trong khẩu phần ăn của Scylla paramamosain được xác định ở mức 3,94–3,98 g/kg thức ăn, tương ứng với hàm lượng protein thô 8,87–9,96 g/kg. Mức bổ sung Trp phù hợp có tác dụng thúc đẩy đáng kể sự tăng trưởng, tăng cường hoạt tính của các enzyme tiêu hóa, nâng cao đáp ứng miễn dịch và hạn chế các hành vi hung hăng ở loài này. Ngược lại, việc bổ sung Trp quá mức có thể làm suy giảm chức năng miễn dịch. Những kết quả này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả nuôi trồng giáp xác và xây dựng môi trường nuôi tối ưu. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc cân đối các axit amin thiết yếu và hoàn thiện công thức thức ăn thương mại.

Theo Wenping Feng, Zeping Zhao, Hanying Xu, Xueting Liu, Tao Han, Jiteng Wang

Nguồn: https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S235251342400471X?ref=pdf_download&fr=RR-2&rr=8db7e50249623db1

Biên dịch: Nguyễn Thị Quyên – Bình Minh Capital

Xem thêm:

 

You cannot copy content of this page